Thuốc trị viêm xương khớp – Trị Liệu Gia Bảo

☎ Hotline: 0984.711.502

☯ Địa chỉ: P412, HH2A, Linh Đàm, Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội

Khỏe tự nhiên - Đẹp tự nhiên

Thuốc trị viêm xương khớp

Nhiều loại thuốc khác nhau được sử dụng để kiểm soát cơn đau liên quan đến viêm khớp cột sống. Hai yếu tố quan trọng phải được xem xét trong thuốc là mức độ đau của bệnh nhân và tác dụng phụ tiềm tàng của thuốc. Ngay cả các loại thuốc không kê đơn nên được kiểm tra tác dụng phụ.

Acetaminophen

Đối với đau nhẹ và khó chịu mà không bị viêm, acetaminophen không kê đơn (như Tylenol) có thể được điều trị đầy đủ. Acetaminophen không làm giảm viêm, nhưng là một thuốc giảm đau hiệu quả và ít gây ra các vấn đề về dạ dày hơn NSAID (như ibuprofen hoặc aspirin), đặc biệt ở những bệnh nhân lớn tuổi hoặc những người dễ mắc các vấn đề về dạ dày.

Vì những lý do này, acetaminophen thường là thuốc ban đầu được ưa thích dùng cho bệnh nhân viêm xương khớp. Những người mắc bệnh gan, những người uống rượu nhiều và những người dùng thuốc làm loãng máu hoặc NSAID và những người dùng acetaminophen trong hơn 10 ngày liên tục nên thận trọng khi sử dụng acetaminophen và chỉ cần được bác sĩ chăm sóc.

Kem giảm đau, xoa, xịt

Kem giảm đau, còn được gọi là thuốc giảm đau tại chỗ, áp dụng cho da trên khớp có thể giúp giảm đau viêm khớp nhẹ. Chúng có sẵn trên quầy và thường có thể được sử dụng kết hợp với thuốc uống.


Các ví dụ bao gồm capsaicin (như Arthricare, Zostrix), salicin (như Aspercternal), methyl salicylate (như Bengay, Icy Hot) và tinh dầu bạc hà (Flexall). Thuốc giảm đau tại chỗ không nên được sử dụng với các phương pháp điều trị nhiệt khác, vì sự kết hợp có thể gây ra quá nhiều nhiệt và thậm chí là bỏng.

Thuốc chống viêm không steroid (NSAID)

NSAID là thuốc được sử dụng để giảm cả đau xương khớp và viêm liên quan đến đau ở khớp. Ví dụ về NSAID không kê đơn bao gồm aspirin (ví dụ: Bayer, Ecotrin), ibuprofen (ví dụ: Advil, Motrin, Nuprin) và naproxen (ví dụ: Aleve, Naprosyn, Anaprox, Naprelan). Đôi khi có thể sử dụng NSAID trong một thời gian và sau đó ngừng sử dụng chúng trong thời gian mà không có triệu chứng tái phát, do đó giảm nguy cơ tác dụng phụ.

Các tác dụng phụ phổ biến nhất của NSAID liên quan đến rối loạn tiêu hóa, như khó chịu ở dạ dày, chuột rút, tiêu chảy, loét và thậm chí chảy máu. NSAID cũng được cho là làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch nghiêm trọng (như đau tim hoặc đột quỵ), đặc biệt đối với những bệnh nhân có nguy cơ mắc các bệnh này. Nguy cơ của những điều này và các tác dụng phụ khác tăng lên ở người cao tuổi, khi dùng ở liều cao hơn và sử dụng lâu dài.

Nhiều loại thuốc khác không thể dùng khi bệnh nhân đang được điều trị bằng NSAID vì NSAID thay đổi cách cơ thể sử dụng hoặc loại bỏ các loại thuốc khác. Bệnh nhân nên kiểm tra với nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe hoặc dược sĩ trước khi bắt đầu hoặc thay đổi chế độ điều trị NSAID cho bệnh viêm xương khớp.

Một loại NSAID khác, được gọi là chất ức chế COX-2, chỉ có sẵn theo toa và được thiết kế để có ít tác dụng phụ liên quan đến dạ dày và ruột hơn các NSAID khác. Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy rằng các chất ức chế COX-2 có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch nghiêm trọng hơn các NSAID khác.

Kể từ tháng 4 năm 2005, theo khuyến nghị của FDA, chất ức chế COX-2 duy nhất có sẵn cho người tiêu dùng là celecoxib (tên thương hiệu Celebrex). Cả valdecoxib (Bextra) và rofecoxib (Vioxx), chất ức chế COX-2 được sử dụng bởi hàng triệu người bị viêm khớp, đã bị ngừng nghiên cứu thêm về sự an toàn của họ. Bệnh nhân nên tham khảo ý kiến ​​bác sĩ điều trị để đánh giá lợi ích và rủi ro tương đối của thuốc ức chế COX-2 để đưa ra kế hoạch điều trị tốt nhất cho tình huống lâm sàng cá nhân.

Tiêm Cortisone

Mặc dù cortisone đường uống thường không được sử dụng trong điều trị viêm xương khớp, nhưng khi tiêm trực tiếp vào khớp cột sống xương khớp, cortisone có thể nhanh chóng giảm đau và phục hồi chức năng.

Glucocorticoids tiêm (còn gọi là corticosteroid, là các hormone chống viêm mạnh) có thể được sử dụng cho viêm và đau không đáp ứng với NSAID. Loại tiêm này được thiết kế để giảm viêm, và thường được kết hợp với thuốc gây mê, do đó sẽ giúp giảm đau của bệnh nhân. Vì tiêm cortisone lặp đi lặp lại có thể gây hại cho mô và xương, nên chúng được dành riêng cho những bệnh nhân có triệu chứng rõ rệt hơn và thường không được khuyến cáo trong hơn ba lần điều trị mỗi năm.

Các thuốc khác cho viêm khớp cột sống

Thuốc giảm đau gây nghiện nhẹ cũng có thể rất hiệu quả để giảm đau thêm cho viêm xương khớp. Do khả năng gây nghiện, chúng không được sử dụng trong thời gian dài và không được quy định phổ biến.

Bổ sung dinh dưỡng

Bổ sung dinh dưỡng là một phương pháp điều trị thay thế tương đối gần đây cho những người bị viêm xương khớp ở Mỹ, mặc dù chúng đã được sử dụng từ những năm 1960 ở châu Âu. Cần lưu ý rằng rất ít thông tin khoa học tồn tại về việc bổ sung dinh dưỡng liên quan đến các bệnh về cột sống. Cần nhiều nghiên cứu hơn về sự an toàn và hiệu quả của chúng.

Gần đây, thực phẩm bổ sung glucosamine và chondroitin đã được chứng minh là làm giảm các triệu chứng đau và cứng đối với một số người bị viêm xương khớp. Glucosamine và chondroitin, tương tự như NSAID, đã được chứng minh là có tác dụng chống viêm. Họ cũng có thể ức chế sự phá vỡ sụn liên quan đến viêm xương khớp và thậm chí thúc đẩy sự phát triển của sụn.

Những chất bổ sung này có sẵn ở dạng viên nang tại các hiệu thuốc và cửa hàng thực phẩm sức khỏe mà không cần toa bác sĩ (như vitamin), mặc dù không có gì chắc chắn về độ tinh khiết của sản phẩm hoặc liều lượng của các hoạt chất vì chúng không được FDA theo dõi. Họ đang trở nên phổ biến khi nhiều người sử dụng chúng và báo cáo các cải thiện trong các triệu chứng viêm xương khớp và tương đối ít tác dụng phụ tiêu cực.

Glucosamine và chondroitin sulfate có thể không cung cấp đủ giảm đau cho tất cả bệnh nhân viêm xương khớp. Nhiều bệnh nhân thấy tốt nhất là sử dụng bổ sung dinh dưỡng glucosamine và chondroitin sulfate kết hợp với các phương pháp điều trị không phẫu thuật khác (theo hướng dẫn của bác sĩ điều trị).

Đau dạ dày, buồn nôn, ợ nóng và tiêu chảy là những tác dụng phụ được báo cáo phổ biến nhất. Uống glucosamine và / hoặc chondroitin sulfate với thực phẩm dường như làm giảm tỷ lệ mắc các tác dụng phụ ở trên. Bệnh nhân dùng thuốc làm loãng máu hoặc điều trị bằng aspirin hàng ngày nên cẩn thận khi dùng chondroitin vì nó có thể làm tăng loãng máu và gây chảy máu quá nhiều. Phụ nữ đang hoặc có thể mang thai không nên dùng glucosamine hoặc chondroitin, vì những ảnh hưởng đối với trẻ chưa sinh chưa được biết đến. Những người bị dị ứng tiểu đường hoặc động vật có vỏ sẽ cần phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa thêm và có thể cần phải tránh cả hai chất bổ sung hoàn toàn. Trong mọi trường hợp, đầu tiên bác sĩ nên được tư vấn.

Bổ sung dầu cá cũng đã được chứng minh là có một số đặc tính chống viêm và tăng lượng cá ăn vào và / hoặc uống viên nang dầu cá (viên nang omega 3) đôi khi có thể làm giảm viêm do viêm khớp. Ngoài ra, chất chống oxy hóa trong một số vitamin, chẳng hạn như vitamin C, D và E, cũng có thể giúp ích, thông qua các chất bổ sung hoặc nhấn mạnh trong chế độ ăn uống của bệnh nhân.

Tin cùng chuyên mục

Rối loạn chức năng hàm 4 khớp liên kết xương gò má Zygomatic Giải phẫu khớp sợi liên kết xương mặt, xương sọ Giải phẫu các khớp trên khuôn mặt Video giải phẫu khớp vai Anatomy of shouder Dây chằng chéo trước Giải phẫu Khớp gối Knee joint Phân loại khớp theo cấu tạo và chức năng Triệu chứng Viêm khớp cột sống cùng cụt Video giải phẫu Viêm khớp thắt lưng
0984.711.502